Nơi hội tụ linh khí sông Lam
Đền Ông Hoàng Mười tọa lạc trên vùng đất xưa thuộc xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, nay là xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ngôi đền nằm ở vị trí có cảnh quan đẹp, phía trước là dòng sông Lam như dải lụa xanh mềm mại ôm lấy làng quê, phía sau là sông Cồn Mộc quanh co uốn khúc. Bên kia sông là núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô với những dấu tích lịch sử còn in đậm trong tâm thức người xứ Nghệ.
Chính sự hòa quyện của sông nước, mây núi nơi hạ lưu sông Lam - một trong những đại danh thắng của vùng đã tạo nên không gian thanh thoát, tĩnh tại. Du khách về đền không chỉ để dâng hương, mà còn để thả lòng mình giữa cảnh sắc khoáng đạt, đón nhận cảm giác bình yên khi đứng trước thiên nhiên rộng mở.
Theo tìm hiểu, đền được xây dựng từ thời Hậu Lê (khoảng năm 1634), thờ các vị phúc thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ của Việt Nam, đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nhân vật được thờ chính là Ông Hoàng Mười, ngoài ra còn có các vị phúc thần như Lê Khôi, Quận công Trịnh Trung, Song Đồng Ngọc Nữ cùng hệ thống đạo Mẫu Tứ phủ.
Trong truyền thuyết dân gian, Ông Hoàng Mười (còn gọi là Ông Mười Nghệ An) là con của Vua cha Bát Hải Động Đình - vị thần tiên nơi chốn Đào Nguyên. Theo lệnh Vua cha, Ngài giáng trần giúp dân, phù đời, được giao trọng trách trấn thủ Nghệ An về mặt tâm linh, toàn quyền kiểm soát khâm sai ở xứ Nghệ.
Dân gian lưu truyền rằng Quan Hoàng Mười là người văn võ song toàn, có công dựng nền thịnh trị, ổn định cuộc sống cho nhân dân quanh vùng. Ngài đặc biệt quan tâm, giúp đỡ người nghèo khó, được nhân dân kính trọng như một vị tướng tài. Trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, Ngài có công lớn. Khi bị thương nặng, Ngài phi ngựa về đến quê nhà thì qua đời. Dân làng chưa kịp mai táng, mối đã đùn đất lên quanh thi hài thành một ngôi mộ. Thương tiếc công lao, triều đình và nhân dân lập đền thờ bên cạnh ngôi mộ để tưởng niệm.
Công lao của Quan Hoàng Mười được các triều đại phong kiến ghi nhận qua nhiều thần hiệu như: “Khâm Sai Tiết Chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa Đẳng Xứ, Kiêm Thủy Bộ Chư Dinh, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Úy, Vị Quốc Công”.
Trải qua biến thiên lịch sử, ngôi đền từng bị phá hủy. Năm 1995, đền được phục dựng theo quy mô truyền thống với tam quan, tắc môn, đài trung thiên, lầu cô, lầu cậu. Khu chính điện gồm Thượng điện, Trung điện và Hạ điện, mang kiến trúc đền chùa thời Nguyễn. Vật liệu chủ yếu bằng gỗ, được chạm trổ công phu với họa tiết long, lân, quy, phụng tinh xảo, thể hiện tài hoa của nghệ nhân xứ Nghệ.
Dù qua nhiều lần trùng tu, đền vẫn lưu giữ được kiến trúc nghệ thuật đặc sắc cùng nhiều tài liệu, hiện vật quý như 21 sắc phong, bản thần tích chữ Hán và hệ thống tượng pháp có giá trị lịch sử, thẩm mỹ. Đó không chỉ là chứng tích của một không gian tín ngưỡng, mà còn là kho tư liệu sống động về văn hóa vùng đất Nghệ An.
Lan tỏa giá trị di sản và niềm tin cộng đồng
Nếu kiến trúc và truyền thuyết tạo nên chiều sâu lịch sử, thì lễ hội lại thổi vào Đền Ông Hoàng Mười sức sống đương đại. Theo các cao niên trong xã, trước đây lễ hội được tổ chức vào ngày 15/3 (âm lịch) hằng năm. Từ năm 1995, khi đền được phục dựng, lễ hội chính chuyển sang ngày 9 và 10/10 (âm lịch), ngày hóa của Quan Hoàng Mười, trùng với Tết cơm mới, Tết Trùng thập, Tết Hạ nguyên. Ngày 15/3 hiện chỉ tổ chức thắp hương, dâng lễ.
Lễ hội diễn ra theo nghi thức truyền thống trang nghiêm gồm: Lễ khai quang (mộc dục), Lễ rước sắc, Lễ yết cáo, Lễ đại tế, Lễ tạ. Trong đó, Lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn về đền chiều 9/10 (âm lịch) mang ý nghĩa đặc biệt. Từ thời phong kiến, sắc phong của đền được giao cho dòng họ Nguyễn trông coi. Mỗi mùa hội, sắc được rước ra đền và sau đó lại rước về nhà thờ họ, thể hiện sự gìn giữ truyền thống qua nhiều thế hệ.
Điểm nhấn của lễ hội là các hoạt động gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là nghi lễ hầu đồng - hình thức diễn xướng tâm linh đáp ứng nhu cầu giao tiếp, gửi gắm ước nguyện của con người với thần linh. Tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, càng làm nổi bật giá trị của lễ hội nơi đây.
Phần hội cũng sôi nổi với các hoạt động văn hóa, thể thao như bóng chuyền nam, nữ của 18 xã, thị trấn (thuộc huyện Hưng nguyên cũ); đua thuyền trên sông Mộc với sự tham gia của các xã Xuân Lam, Long Xá, Hưng Lợi cùng các địa phương lân cận như Đô Lương, Nam Đàn, thị xã Hoàng Mai. Không khí rộn ràng ấy hòa cùng sắc Xuân, tạo nên bức tranh lễ hội vừa trang nghiêm vừa đậm tình cộng đồng.
Trong những ngày 17-20/2 (tức mùng 1-4 Tết Bính Ngọ), hàng chục nghìn người dân địa phương và du khách thập phương đã về dâng hương tại đền, cầu bình an, phúc lộc đầu năm. Ngay từ sáng sớm, dòng người đã đổ về trong không khí thành kính. Dù lượng khách rất đông, công tác tổ chức được thực hiện chu đáo, không xảy ra tình trạng chen lấn, xô đẩy.
Ông Nguyễn Văn Đàn, Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Nguyên, khẳng định, địa phương xác định chất lượng phục vụ và thái độ ứng xử của người làm du lịch chính là bộ mặt của địa phương. Vì vậy, xã thường xuyên tuyên truyền, quán triệt tinh thần kinh doanh văn minh, kiên quyết không để xảy ra tình trạng chèo kéo, nâng giá. Mục tiêu là mỗi du khách khi rời đi đều mang theo ấn tượng đẹp về con người và văn hóa xứ Nghệ.
Ghi nhận trong những ngày đầu Xuân, khu vực hàng quán, dịch vụ được sắp xếp gọn gàng, tạo nên không khí lễ hội văn minh, an toàn. Nhiều gia đình lựa chọn đi lễ ngay từ mùng Một Tết với mong muốn khởi đầu năm mới hanh thông.
Anh Bùi Hoàng Thanh (Hà Nội) chia sẻ: “Năm nào gia đình tôi cũng về đây dâng hương. Không chỉ để cầu may mắn, bình an mà còn để các con hiểu thêm về truyền thống, về một nét đẹp văn hóa của xứ Nghệ”.
Còn bà Trần Thị Hòa, người dân xã Lam Thành, bày tỏ niềm tự hào: “Đền là niềm tin tâm linh của người dân chúng tôi. Không chỉ mỗi dịp Tết đến Xuân về, trong cuộc sống thường nhật bà con đều ý thức giữ gìn cảnh quan, ứng xử văn minh để đón khách thập phương”.
Giữa tiết trời Xuân ấm áp bên dòng sông Lam, Đền Ông Hoàng Mười vừa là nơi gửi gắm ước vọng đầu năm, vừa là không gian lưu giữ giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Nghệ An. Mỗi nén hương được thắp lên là một lời nguyện ước bình an, mỗi bước chân hành hương là một nhịp nối truyền thống. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích tiếp tục được địa phương quan tâm, để ngôi đền mãi là nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa, lan tỏa niềm tin và bản sắc dân tộc qua từng mùa trong năm.
Theo Hà Nội Mới