688904247-4243308179242368-9120454264852592267-n-1779005929.jpg

Nhận thấy những câu hỏi ấy cũng là sự quan tâm chung của mọi người nên bắt đầu từ hôm nay, tôi xin trích đăng một phần nhỏ trong cuốn sách “Nhân quả và Phật pháp nhiệm màu tập 3”. 

Những ai quan tâm đến tác phẩm này cũng như cuốn Nhân quả và Phật pháp nhiệm màu tập 1, tập 2, Hạnh phúc đích thực, Bí ẩn bùa ngải, Tiếng vọng từ những linh hồn, Chuyện đời Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, Thoát bệnh hiểm nghèo bằng nhịn ăn và thực dưỡng, Phóng sự chọn lọc… của nhà báo Hoàng Anh Sướng, xin vui lòng liên hệ theo số ĐT/Zalo: 092.730.9999. 

PHẦN 1: KHÁM PHÁ THẾ GIỚI CỦA NHỮNG NGÔI MỘ

Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, cùng với phong tục thờ cúng tổ tiên, việc chăm sóc mồ mả ông bà, cha mẹ cũng là một nghi thức đặc biệt quan trọng. Bởi hầu hết mọi người đều tin rằng: chết không phải là hết. Phần mộ của tổ tiên ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh của một gia đình, thậm chí, của một dòng họ. Đối với những ngôi mộ kết phát, con cháu làm ăn rất phát đạt, học hành giỏi giang, công danh thành đạt. Trái lại, những ngôi mộ khi bị “động”, “phạm” thì tai họa ập đến với con cháu sẽ khôn lường. Từ ngàn đời nay, dân gian đã lưu truyền câu nói: “Sống là nhờ mồ nhờ mả. Không ai sống bằng cả bát cơm”.

Những năm gần đây, trong hành trình đến các thiền viện, các chùa khắp cả nước chia sẻ về đạo Phật, thậm chí, trong cả những buổi họp báo ra mắt sách, tôi đã nhận được rất nhiều câu hỏi của bạn đọc xoay quanh chủ đề này: Phong thủy mồ mả ảnh hưởng thế nào đến hậu thế gia trạch? Cách chăm sóc mồ mả? Thế nào là một ngôi mộ kết? Tình trạng rất nhiều thi hài người chết, khi cải cát, vẫn còn nguyên vẹn diễn ra ở khắp nơi hiện nay có phải là mộ kết không? Cách giải quyết thế nào? Khi chết đi nên địa táng hay hỏa táng rồi gửi cốt vào chùa? Nếu hỏa táng thì linh hồn có còn tồn tại không? Có bị nóng không? Chết đi về đâu? Làm thế nào để người thân mình siêu thoát?...

Nhận thấy đây là một vấn đề lớn trong đời sống tâm linh người Việt, một nỗi niềm thao thức của rất nhiều người, chúng tôi quyết định thực hiện thiên phóng sự này ngõ hầu giúp bạn đọc có một cái nhìn, cách hành xử đúng đắn, sâu sắc, nhân văn với mồ mả tổ tiên, với hành trình sau khi chết. Điều đặc biệt là trong quá trình nghiên cứu, đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người để thu thập tư liệu, chúng tôi đã bắt gặp rất nhiều những hiện tượng, những câu chuyện kỳ bí, huyền hoặc, đôi khi đến rợn người. Thế giới tâm linh quả là rộng lớn với biết bao điều huyền bí níu gọi chúng ta tiếp tục tìm hiểu, khám phá và giải mã. 

MỐI LIÊN HỆ BÍ ẨN GIỮA MỒ MẢ TỔ TIÊN VÀ CON CHÁU

Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, cả tuổi thơ tôi gắn liền với dòng sông, cánh đồng, bãi mía, nương khoai, cây đa, giếng đình làng cổ… Tại làng quê xứ Đoài mang đậm nét điển hình của nông thôn Bắc Bộ ấy, tôi cũng được chứng kiến rất nhiều điều kỳ lạ về thế giới tâm linh. Cùng với sự ám ảnh về những ngôi mộ cổ gắn liền với những câu chuyện rùng rợn về thần giữ của, tôi cũng thao thức rất nhiều về sự sống sau khi chết, sự liên đới giữa người chết và người sống gắn liền với khu nghĩa địa ở cánh đồng Khoang cách nhà tôi không xa, nơi ngày ngày, tôi thường chăn trâu, cắt cỏ. 

Từ ngàn đời nay, quê tôi đã tồn tại phong tục tảo mộ gia tiên. Hàng năm, cứ vào sáng mồng 4 Tết, nhà nhà trong thôn đổ ra cánh đồng Khoang để sửa sang các ngôi mộ của ông bà, tổ tiên cho sạch sẽ. Người ta mang theo dao, xẻng, cuốc để rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ, đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ. Vì theo suy nghĩ của họ, động phạm đến mồ mả là phạm tới linh hồn người đã khuất, con cháu trên trần sẽ không yên ổn.

Ngày mồng 4 Tết, khu nghĩa địa ở cánh đồng Khoang trở nên đông đúc, nhộn nhịp như ngày hội. Người tảo mộ bày đặt lễ vật mọi thức như thanh bông, hoa quả, rượu, thịt, thức ăn, tiền vàng lên mộ rồi thắp hương, lầm rầm khấn vái. Cả cánh đồng rộng mênh mông bát ngát chìm trong khói hương. Đám trẻ nhỏ chúng tôi cũng được cha mẹ dắt theo đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng tôi lòng biết ơn, ghi nhớ, sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Tại nghĩa địa, bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ thấp lè tè, nằm lạnh lẽo, ỏn sót, không người thăm viếng. Cha mẹ thường sai chúng tôi cắm lên các ngôi mộ này một nén hương để vong linh họ đỡ tủi. 

Nhiều lần, tôi băn khoăn hỏi cha tôi. “Cha ơi! Ông bà chết rồi. Chết là hết, có ăn được đâu mà sao cha vẫn dâng thức ăn, tiền vàng? Chết rồi, biết gì nữa đâu mà sao cha vẫn phải xây, chăm sóc mộ cho đẹp đẽ, khang trang?” Cha tôi cười hiền: “Không con ơi! Chết không phải là hết. Chết chỉ có thân xác là tan rã, còn linh hồn vẫn tồn tại. Vì thế, dẫu ông bà, tổ tiên không còn sống nhưng họ vẫn dõi theo chúng ta, phù hộ độ trì cho con cháu. Các cụ ta ngày xưa có câu: “Sống là nhờ mồ nhờ mả chứ không ai sống bằng cả bát cơm”. Mồ mả tổ tiên quan trọng lắm. Số phận của một gia đình, dòng họ thịnh hay suy, giàu hay nghèo, sướng hay khổ, phụ thuộc rất nhiều vào mồ mả tổ tiên có phát hay không?”. “Cha ơi! Thế linh hồn là gì? Linh hồn có nhìn thấy không? Tại sao linh hồn lại có thể tác động đến cuộc sống của những người còn sống ạ?”. Cha xoa đầu tôi: “Con còn bé, chưa hiểu được đâu. Lớn lên, tự khắc con sẽ biết”. Nhưng chưa kịp lớn, tôi đã bắt đầu được chứng kiến sự liên hệ, tác động vô hình giữa mồ mả ông bà, tổ tiên đến cuộc sống của con cháu trên trần gian. Nó vô cùng kỳ lạ. 

Chuyện là: Gia đình tôi có một thửa ruộng ở trước cửa chùa. Mộ ông nội tôi chôn ngay ở đó. Ông mất năm 1934, khi cha tôi mới tròn hai tuổi và bà nội đang mang thai chú tôi. Nghe đâu, ông tôi làm ở Sở dầu nhưng bí mật hoạt động cho cách mạng. Sau này, mật thám Pháp phát hiện ra nên ông tôi bị giết. Ngày ấy, gia cảnh bà tôi nghèo khó nên mộ ông chôn rất sơ sài. Chỉ có tiểu sành, không có nắp đạy nên phải dùng mấy viên gạch đặt lên trên. Năm 1970, chú tôi khi đó là sĩ quan Học viện an ninh, bỗng bị đau mắt nặng. Hai mắt sưng vù, lòng mắt đỏ lòm như hai cục tiết, rất đau đớn. Chú tôi điều trị hết bệnh viện mắt Hà Nội rồi Bệnh viện mắt trung ương, chuyển từ Tây y sang Đông y mà không đỡ. Các bác sĩ đều lắc đầu thở dài, không biết đích xác chú tôi bị bệnh gì. Thím tôi về quê, gặp cha tôi, khóc nức nở. Thương em, cha tôi đạp xe vào tận vùng núi Miếu Môn, tìm gặp một thầy tâm linh nổi tiếng về khả năng soi lá trầu, quả cau, nói gia sự trúng như người trong nhà. Xem lá trầu, quả cau cha tôi hái, thầy bảo: Chú tôi không phải mắc bệnh trần mà là bệnh âm. Nguyên do động mộ ông nội tôi. Có cái rễ cây ăn vào trong mộ. Vì thế, muốn khỏi mắt, phải chữa bằng tâm linh, không thể bằng thuốc. Về nhà, cha tôi bàn bạc với bác tôi về việc đào mộ ông nội lên. Nhưng bác tôi gạt ngay. Là đảng viên, cán bộ xã, bác tôi không tin vào tâm linh, bói toán. 

Bệnh của chú tôi ngày càng nặng. Nguy cơ bị mù. Cha tôi ra Hà Nội thăm chú, hai anh em ôm nhau khóc nấc. Buổi chiều muộn, vừa về đến nhà, buông chiếc xe đạp, cha tôi vội vã cầm cuốc, thuổng, bí mật ra ngoài ruộng, đào mộ ông nội tôi. Đào sâu chừng 80 cm thì tới tiểu. Cha tôi sững người khi phát hiện ra mấy viên gạch đặt trên tiểu bị vỡ. Nguyên nhân có thể do sức ép của trận bom kinh hoàng năm 1968. Nhấc mấy viên gạch ra, cha tôi khóc òa. Mấy cái rễ của bụi chuối gần đó đã len lỏi qua hàng gạch vỡ, bò vào hai hốc mắt của ông tôi. Rễ nó trắng nhởn, to mập. Cha tôi nhẹ nhàng gỡ bỏ đám rễ chuối, thay chiếc tiểu mới rồi bí mật chôn lấp lại. Hôm sau, cha tôi sửa soạn lễ chay, lễ mặn, vàng mã, hương hoa, mời cụ đồ Mão ra mộ làm lễ tạ, hoàn long mạch. Kỳ lạ thay, ngay tối hôm ấy, mắt chú tôi đỡ dần và một tuần sau thì khỏi hẳn. Ai cũng kinh ngạc. Đám bác sĩ ở Bệnh viện mắt tìm gặp chú tôi, hỏi xem vị thần y nào đã cứu giúp đôi mắt của chú tôi. Nhưng chính chú tôi cũng không biết vì sao mình bỗng dưng khỏi bệnh. Bởi chuyện đào mộ ông nội, cha tôi giấu nhẹm, không nói cho ai biết.

Cha tôi có hai anh em ruột là bác tôi và chú tôi. Ba anh em cách nhau mỗi người 2 tuổi. Mồ côi cha từ nhỏ nên ba anh em yêu thương nhau hết mực. Sau này, mỗi người đều có gia đình riêng nhưng mỗi khi giỗ ông bà nội, ba anh em lại có dịp quây quần hội ngộ. Họ ríu rít thâu đêm, ôn nghèo kể khổ. Bác tôi bảo: “Mừng nhất là nhờ hồng đức của ông bà, tổ tiên mà 3 gia đình anh em chúng ta đều phương trưởng”. Cha tôi trầm ngâm bảo: “Cuộc đời vô thường lắm anh ạ. Hôm nay thế này ngày mai đã khác. Không ai biết trước được ngày mai sẽ ra sao? Em nghĩ, anh em mình hãy sống sao cho thật tử tế, tích thêm phúc đức cho con cháu. Em chẳng cầu mong danh lợi, bạc tiền. Chỉ mong sao anh em, con cháu mình được hai chữ bình an”. Nhưng hai chữ bình an mà cha tôi cầu mong ấy đã không kéo dài được bao lâu. Liên tiếp các cơn bão lớn ập đến đại gia đình tôi, bắt đầu từ nhà chú tôi. Năm 1987, em Sơn, con trai út chú tôi, 16 tuổi, đang học lớp 8 (thời ấy, chương trình học phổ thông chỉ đến lớp 10), rất khỏe mạnh, ngoan ngoãn, học giỏi. Một lần, đi học về, em Sơn kêu đau bụng và sốt. Thím tôi cho em uống thuốc hạ sốt nhưng em sốt càng cao. Bụng trướng to. Đưa em đi viện, cả nhà ngã ngửa khi bác sĩ thông báo kết quả xét nghiệm: em Sơn bị ung thư máu (còn gọi là ung thư bạch cầu, bệnh bạch cầu), một dạng ung thư ác tính. Bác sĩ giải thích, khi mắc bệnh, bạch cầu trong cơ thể sẽ tăng đột biến. Thông thường, bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, tuy nhiên khi tăng lên đột biến, số lượng lớn bạch cầu sẽ trở nên “hung dữ” và gây hại cho cơ thể. Khi đó, bạch cầu sẽ bị thiếu “thức ăn”, dẫn đến hiện tượng “ăn” hồng cầu khiến cho các hồng cầu bị phá hủy dần, người bệnh thiếu máu dẫn đến tử vong. Đau bụng, sốt là một trong những triệu chứng của bệnh ung thư máu. Đó là kết quả của việc các tế bào ung thư máu tích tụ trong thận, gan và lá lách, khiến bụng to ra. Em Sơn sụt cân rất nhanh, suốt ngày kêu rên vì đau đớn. Xoa bóp lưng, chân, tay cho em, em càng kêu đau do tủy xương bị lấp đầy bởi các tế bào bất thường. Những ngày cuối cùng, em không kêu rên được nữa. Em nằm thoi thóp thở. Từ lúc em bị phát bệnh đến lúc từ giã cõi đời, chỉ chưa đầy một tháng.

Năm 1988, sau cái chết của em Sơn một năm, là cái chết của anh Hải, con trai nhà bác tôi. Anh mắc bệnh suy thận. Chân tay, mặt lúc nào cũng phù thũng, da dẻ tím tái. Thỉnh thoảng, anh lại lăn đùng ra ngất. Một tuần, anh phải chạy thận nhân tạo 2-3 lần. Mỗi lần chạy thận, người ta lại luồn ống dẫn qua ổ bụng, máu chảy lênh láng, đau đớn vô cùng. Nhiều lần, tôi phải nhét khăn mặt vào miệng anh, sợ anh cắn vào lưỡi. Ngày ấy, chưa có bảo hiểm y tế chi trả như bây giờ nên chạy thận vô cùng tốn kém. Mỗi lần chạy mất một chỉ vàng. Cho đến khi nhà bác tôi khánh kiệt thì anh cũng ra đi, khi vừa tròn 18 tuổi.

Đầu năm 1989, chị gái tôi bị ung thư trực tràng khi đang học lớp 12 khối chuyên văn tỉnh Hà Tây (cũ). Thoạt đầu, những triệu chứng biểu hiện y chang như bệnh kiết lỵ nên gia đình tôi điều trị cho chị ở bệnh viện huyện. Hai tháng sau, bệnh ngày càng nặng. Bác sĩ nghi ngờ chị tôi bị bệnh ung thư nên chuyển chị ra Bệnh viện K. Hà Nội. Sau khi làm tất cả các xét nghiệm, bác sĩ kết luận chị tôi bị ung thư trực tràng giai đoạn cuối, đã di căn lên gan nên không thể phẫu thuật. Hy vọng kéo dài sự sống vô cùng mong manh. Mẹ tôi khóc ầm lên. Cha thì chết lặng. Ngay tối hôm đó, cha tôi đã mời bác và chú tôi đến họp bàn. Cha tôi bảo, chắc chắn gia đình mình vướng mắc gì đó về tâm linh nên mỗi gia đình mới mất một mạng người như thế. Mà toàn người chết trẻ. Cha tôi sực nhớ đến vị thầy tâm linh nổi tiếng ở Miếu Môn, người đã soi lá trầu, quả cau và phát hiện ra mộ ông nội tôi bị động năm 1970 khiến chú tôi suýt mù. Sáng sớm hôm sau, ông hớt hải đạp xe đi, lòng thấp thỏm không biết vị thầy đó còn sống hay đã chết. Thật may, ông cụ vẫn còn, minh mẫn, khỏe mạnh mặc dầu tuổi đời đã ngoài 80. Vẫn như thường lệ, cụ lại soi quả cau, lá trầu do cha tôi dâng. Cụ bảo: “Nhà bác có dùng vật gì đó của nhà chùa thì mau gửi lại. “Của Phật lấy một đền mười”, không dùng được đâu. Xa xưa, dòng tộc nhà bác có một vị làm quan, xử sai vụ án khiến 3 người trong một gia đình bị chết oan. Vong hồn họ hận oán nên tìm cách trả thù. Đến bây giờ, họ mới đủ duyên để đòi món nợ cũ. Bác nên về làm trai đàn chẩn tề giải oan, cầu siêu cho họ. Hy vọng sẽ giải trừ được hận oán, hờn oán. Nếu không oan oan tương báo còn kéo dài không biết đến bao giờ”. Thông tin đầu tiên mà nhà tâm linh cung cấp, cha tôi xác nhận hoàn toàn chính xác. Đó là chiếc sập gụ có từ đời ông nội tôi. Ông mua lại từ một người làm nghề mộc nức tiếng ở làng bên. Vị này, thường mua gỗ của các đình, chùa về đóng bàn ghế, sập gụ, tủ chè, bán cho khách. Dẫu rằng ông nội tôi đã bỏ tiền ra mua nhưng vì liên quan đến của chùa nên cha tôi bàn với bác tôi đem trả lại. Còn thông tin thứ 2 về một cụ nào đó trong dòng tộc từng làm quan đã xử án oan cho người? Cha tôi đã đến nhà cụ trưởng họ, mượn cuốn gia phả, tra cứu kỹ từng dòng. Đọc đến trang 6, dòng thứ 22, cha tôi giật mình khi nhìn thấy dòng chữ: Cụ Hoàng Nghĩa X., làm quan tri phủ đời Lê, năm Hồng Đức thứ 2… Mặc dầu trong gia phả không ghi chép chuyện cụ có xử án oan hay không như cha tôi tin vào lời phán của vị thầy tâm linh nổi tiếng kia. Thế là, cha tôi thỉnh mời 3 nhà sư cùng 5 thầy pháp sư đến nhà lập đàn làm lễ giải oan, cầu siêu, đổi mạng, cầu bình an… Đàn lễ kéo dài suốt 3 ngày 3 đêm. Lễ lạt, vàng mã, ngựa, voi, hình nhân… rợp sân. Tôi xin nghỉ học, ở nhà, ngồi chắp tay thành tâm cầu nguyện cho chị tôi vượt qua cơn bạo bệnh. Gần cuối trai đàn, cụ đồ Mão làm lễ xin di cung hoán số cho chị tôi, cầu cho chị tôi tai qua nạn khỏi. Sau khi tụng kinh, dâng sớ, cầu nguyện cho chị tôi, cụ cầm 2 đồng trinh trên tay, gieo quẻ âm dương. Tay cụ run run. Tim tôi đập thình thịch. Cả nhà nín thở dán mắt vào chiếc đĩa. Cụ đồ Mão gieo 5 đài, cả 5 đài đều không được, toàn sấp. Cụ lắc đầu thở dài buồn bã. Mẹ tôi òa khóc nức nở. Còn cha, lén đưa tay vuốt nước mắt. 

Hai ngày sau khi lập đàn lễ, chị tôi mất. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nếm trải nỗi đau khủng khiếp khi mất người thân. Suốt mấy tháng trời chị tôi đau bệnh, mỗi khi gần chị, cha tôi đều cố gắng kìm nén nỗi xót thương, cố gắng mỉm cười, động viên chị. Giờ, cha tôi ôm ghì xác chị trong vòng tay, khóc nấc lên. “Con tôi có tội tình gì mà các người nỡ bắt đền tội. Sao các người không bắt tôi đi”. Đó cũng là lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi chợt thấm thía tận cùng sự công bằng đôi khi đến nghiệt ngã của Luật nhân quả, nghiệp báo. Tôi hiểu một cách xót xa: Đời có vay ắt phải trả, không sớm thì muộn. Đời cha chưa trả, đời con phải trả thay.

(Còn nữa)