"Nhớ vợ" - bài thơ của người lính Cầm Vĩnh Ui sống mãi với thời gian

Bài thơ "Nhớ vợ" là lời tâm sự, giọng thủ thỉ và thuyết phục rất đỗi chân thành của một người lính. Bài thơ ngắn, theo lối tự sự giống một lời tâm tình, thủ thỉ, mộc mạc và giản dị như chính tâm hồn của người lính cách mạng trong hoàn cảnh kháng chiến

“Tôi nhớ vợ tôi lắm/ Xin anh về hai ngày/ Nhà tôi ở Mường Lay/ Có con sông Nậm Rốm/ Ngày kia tôi sẽ đến/ Lại cầm súng được ngay/ Tôi càng bắn đúng Tây/ Vì tay có hơi vợ/ Tôi không chết được đâu/ Vì vợ tôi lúc nào/ Cũng mong chồng mạnh khỏe/ Cho tôi đi anh nhé/ Về ôm vợ hai đêm/ Vợ tôi nó sẽ khen/ Chồng em nên người giỏi/ Ngày kia tôi về tới/ Được đi đánh cái đồn/ Hay được đi chống càn/ Là thế nào cũng thắng/ Nếu có được trên tặng/ Cho một cái bằng khen/ Tôi sẽ dọc đôi liền/ Gửi cho vợ một nửa” (Thơ Việt Nam 1945 – 1954, Nxb Giáo dục, H., 1995, trang 265 – 266).

Về mặt văn bản, ở các tuyển tập khác, bài thơ này có 24 câu (chẳng hạn, Vũ Duy Thông – Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam, Nxb Giáo dục, H., 2000 và Thơ kháng chiến 1945 – 1954, Nxb Hội Nhà văn, H., 1995): sau câu thứ tám Vì tay có hơi vợ, tiếp thêm câu thứ chín Cho tôi đi đừng sợ. Theo chúng tôi thêm câu này vào là hợp lí về mặt lôgic, ý thơ sẽ chặt chẽ hơn.

Bài thơ ngắn với 24 câu, thể thơ 5 chữ, theo lối tự sự giống một lời tâm tình, thủ thỉ, mộc mạc và giản dị như chính tâm hồn của người lính cách mạng trong hoàn cảnh kháng chiến. Một dạo khá lâu, những bài thơ viết trong khói lửa chiến tranh như Tây Tiến của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Nhà tôi của Yên Thao, Có một mùa chiêm của Hà Khang, Em tắm của Bạc Văn Ùi, Nhớ vợ của Cầm Vĩnh Ui… vô cớ bị cho là “có vấn đề” và bị quên lãng một cách cố ý. Từ sau năm 1986, ngọn gió lành của công cuộc Đổi mới xã hội và văn chương đã là cơ may chiêu tuyết cho những thi phẩm nói trên, mà nếu thiếu chúng thì diện mạo thơ kháng chiến 1945 - 1954, nói một cách công tâm, sẽ thiếu hụt đáng kể.

d-1701818579.jpg
Hình ảnh minh họa

Phải đặt bài thơ Nhớ vợ của Cầm Vĩnh Ui trong văn cảnh thơ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 mới có thể hiểu hết tính chất “chân” (chân thật) của thơ ca. Thơ thời kì này, nhìn chung, có cái vẻ mộc mạc, hồn nhiên của nó mà các giai đoạn sau ít tìm thấy. Đọc những bài thơ Bộ đội Ông Cụ của Nông Quốc Chấn, Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu, Núi Mường Hung, dòng sông Mã của Cầm Giang, Em tắm của Bạc Văn Ùi… mới thấy hết cái ý của cổ nhân ví thơ như nguồn mạch chảy ra từ muôn vàn khe suối, đó là thứ nước nguyên thủy, tinh khiết, trong lành, tươi mát.

Bài thơ Nhớ vợ là lời tâm sự, giọng thủ thỉ và thuyết phục rất đỗi chân thành của người lính “Tôi nhớ vợ tôi lắm”. Có thể hình dung, đây là lời của một chàng tân binh, vừa nhập ngũ sau khi mới cưới vợ, mới qua tuần trăng mật, chưa quen hơi bén tiếng, đã lên đường theo tiếng gọi của non sông. Chí trai không thể nào khác được khi nước nhà còn trong cảnh khói lửa chiến tranh.

Sự ra đi, lên đường của chàng trai là một hành xử hoàn toàn tự nhiên. Nhưng cái phần “người” của chàng trai người dân tộc này cũng hết sức mạnh mẽ và vốn không quen nói “vòng vo tam quốc”, nên chàng trai cứ thẳng thắn mà trình bày nguyện vọng xin về hai ngày với vợ vì quá nhớ, quá thương. Chàng trai thuyết phục chỉ huy “cho tôi đi đừng sợ” - đừng sợ tôi chết dọc đường vì tên rơi đạn lạc hay thú dữ rình rập; thậm chí đừng sợ tôi “tụt tạt” (ý nói đào ngũ). Đừng lo lắng cho chàng trai vì anh có một hậu phương vô cùng vững chắc “Vì vợ tôi lúc nào/ Cũng mong chồng mạnh khỏe”. Nếu được “Về ôm vợ hai đêm”, chàng trai nghĩ mình sẽ có thêm sức mạnh, sẽ chứng tỏ cho người vợ thương yêu biết “Chồng em nên người giỏi”.

Từ thấp đến cao, từ gần đến xa, từ tình đến lí, chàng trai thuyết phục chỉ huy của mình rằng anh sẽ trả phép đúng hạn như lời thề danh dự của người lính. Anh còn vẽ nên một viễn cảnh cho chính mình và cho người khác, rằng, sau hai ngày phép trở về đơn vị, nếu được đi đánh đồn hoặc chống càn thì “Là thế nào cũng thắng”.

Niềm tin đó giản dị và chân thành tưởng chừng thuyết phục được người chỉ huy. Chúng ta hình dung là, người chỉ huy, sau khi nghe anh lính trình bày hết mọi nhẽ, chỉ mỉm cười và nói với người đội viên mới của mình rằng “Tôi rất hiểu, rất thông cảm, rất thương người anh em mình, nhưng quân lệnh như sơn, mong đồng chí nén nhịn, sau chiến dịch này sẽ đề nghị cấp trên giải quyết!”. Người vợ trẻ của chàng tân binh nơi hậu phương xa xôi chắc hẳn cũng nhớ chồng đến quay quắt, cũng mong có phép màu để chồng mình tranh thủ về thăm nhà được hai đêm… Nhớ mong nhưng người vợ không thể hình dung được, nơi trận tiền chồng mình đang sôi lên để thuyết phục chỉ huy mà không được. Người vợ cũng không biết được rằng, ở trận tiền, chồng mình còn kể lể với chỉ huy rằng, nếu lập công và được khen thưởng thì chồng mình sẽ dọc đôi cái bằng khen cấp trên tặng để “gửi cho vợ một nửa”. Đúng như cổ nhân nói “của chồng công vợ”!

Nhớ vợ là một bài thơ hay, dễ đi vào lòng người và vượt qua được sự thử thách của thời gian./.

Theo Nhà Thơ Bùi Việt Thắng (Tamnhin.trithuccuocsong.vn)

Link nội dung: https://webcongdong.vn/nho-vo-bai-tho-cua-nguoi-linh-cam-vinh-ui-song-mai-voi-thoi-gian-a3893.html