Tại đây, các đại diện doanh nghiệp đã cùng nhau mổ xẻ những cơ hội, thách thức, đồng thời chia sẻ nhiều bài học thực tiễn trong việc ứng dụng công nghệ mới để đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn tầm.
Nếu như phiên thảo luận thứ nhất với chủ đề “Khơi thông nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa” đã giải quyết những câu chuyện mang tính nền tảng như thể chế, chính sách, bản quyền và đào tạo nhân lực, thì sang phiên thứ hai, trọng tâm được dịch chuyển từ “cần làm gì” sang “làm như thế nào”.
Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác định rõ công nghiệp văn hóa (CNVH) chính là một trong những động lực phát triển mới của đất nước trong thời kỳ chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để đưa chủ trương đi vào thực tiễn, vai trò then chốt lại nằm ở cộng đồng doanh nghiệp - những chủ thể đang trực tiếp số hóa tài nguyên và đưa các giá trị văn hóa vào nền kinh tế số.
Mở đầu phiên thảo luận, từ góc nhìn của một đơn vị lữ hành hàng đầu, bà Đoàn Thị Thanh Trà, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ lữ hành Saigontourist đã chia sẻ về những cơ hội lớn nhất để CNVH Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số thông qua lĩnh vực du lịch và dịch vụ.
Theo bà Trà, công nghệ số chính là “chìa khóa” giúp tối ưu hóa việc đầu tư và “đóng gói” các sản phẩm du lịch văn hóa vốn giàu tiềm năng nhưng khó tiếp cận trước đây. Thực tế cho thấy, công nghệ giúp du khách có những trải nghiệm sâu sắc, sống động hơn về văn hóa bản địa. Đây là cơ hội vàng để các doanh nghiệp lữ hành khai thác triệt để các giá trị di sản.
Đồng thời, bà Trà cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ để kết nối doanh nghiệp, nhà trường và các đơn vị nghệ thuật, từ đó tạo nên một chuỗi cung ứng sản phẩm du lịch - văn hóa toàn diện phục vụ du khách.
Không chỉ trong lĩnh vực du lịch, bản sắc văn hóa từ lâu đã là nguồn lực cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm thương mại. Câu chuyện sáng tạo của Dược Vạn Xuân là một ví dụ điển hình cho tư duy “thổi hồn” di sản vào dòng sản phẩm hiện đại.
Lấy cảm hứng từ hình tượng “trầu cau” quen thuộc để phát triển các sản phẩm chăm sóc đời sống, dược sĩ Phan Văn Hiển, Giám đốc Công ty TNHH Vạn Xuân cho biết, đây là cách doanh nghiệp hiện thực hóa lòng tự hào văn hóa và mong muốn gắn kết thương hiệu với các giá trị dân tộc. Bài toán cân bằng giữa yếu tố văn hóa bản địa và tính khoa học ứng dụng đã được giải quyết hài hòa, giúp sản phẩm vừa mang đậm hồn Việt, vừa đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cao.
Không dừng lại ở câu chuyện bảo tồn truyền thống, để văn hóa số có thể lan tỏa sâu rộng trong đời sống hiện đại, sự đồng hành của công nghệ được xem là giải pháp tất yếu. Nhấn mạnh vai trò then chốt của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) trong việc nâng tầm trải nghiệm của công chúng đối với các sản phẩm văn hóa, ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Công ty CP Thư viện số Việt Nam (ViLIB) khẳng định công nghệ số hiện không còn là công cụ hỗ trợ thuần túy mà đã trở thành nền tảng cốt lõi, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất bản và phát hành.
Đi tiên phong trong làn sóng này, ViLIB đang tích cực số hóa thông qua việc phát triển hệ thống thư viện số thông minh, mở ra phương thức tiếp cận tri thức hoàn toàn mới nhằm khơi dậy thói quen đọc sách trong kỷ nguyên số.
“Chúng tôi đang phát triển mô hình thư viện số dùng chung theo hướng kết nối thư viện, nhà xuất bản, cơ sở đào tạo, đơn vị sở hữu tài nguyên và người đọc trong một hệ sinh thái thống nhất, nhằm chuẩn hóa dữ liệu, chia sẻ tài nguyên và bảo đảm khai thác nội dung số hợp pháp, bền vững”, ông Dũng cho hay.
Hướng tới mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp từ 7% đến 9% vào GDP, vai trò của chuyển đổi số trong việc biến tài nguyên di sản thành động lực kinh tế sáng tạo ngày càng trở nên cấp thiết.
Đánh giá về tiềm năng này dưới góc nhìn song hành của một nhà nghiên cứu lẫn người điều hành doanh nghiệp công nghệ - truyền thông, TS. Chu Tiến Đạt, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty VTC nhận định, bước chuyển dịch cốt lõi hiện nay là dịch chuyển từ tư duy "bảo tồn thuần túy" sang "bảo tồn song hành với phát triển".
Từ các tham luận tại Hội thảo, một bài học mang tính sống còn được rút ra đó là CNVH không thể phát triển đơn lẻ mà đòi hỏi một hệ sinh thái kết nối đa ngành, từ công nghệ, truyền thông đến giáo dục, du lịch và xuất bản. Đồng tình với quan điểm này, TS. Chu Tiến Đạt khẳng định thêm, doanh nghiệp chính là lực lượng giữ vai trò then chốt, đóng vai trò “mắt xích” vận hành và hiện thực hóa bức tranh tổng thể đó.
Ở một góc nhìn độc đáo khác, việc khai thác giá trị văn hóa và ứng dụng công nghệ không còn là “đặc quyền” của riêng ngành nghệ thuật hay giải trí. Tại hội thảo, ông Nguyễn Bảo Trung, Tổng Giám đốc AP Saigon Petro đã mang đến một lăng kính mới mẻ từ chính mô hình thực tế của doanh nghiệp.
Tại đây, kinh tế và văn hóa đã tìm thấy điểm giao thoa thông qua hàng loạt chiến dịch bảo tồn, phát huy di sản song hành cùng hoạt động kinh doanh. Điểm nhấn ấn tượng của AP Saigon Petro chính là việc hiện thực hóa các cuộc thi sáng tác, đưa những bức tranh thấm đẫm hồn cốt văn hóa Việt lên bao bì sản phẩm và các ấn phẩm truyền thông.
Sự lồng ghép khéo léo này không chỉ mang lại thành công thương mại vượt mong đợi, mà còn tạo ra “điểm chạm” cảm xúc sâu sắc với người tiêu dùng. Đại diện doanh nghiệp khẳng định sẽ tiếp tục kiên trì với con đường sáng tạo này, hướng tới mục tiêu định vị một thương hiệu kinh tế mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Trước khi khép lại phiên thảo luận, các diễn giả đã cùng nhau đưa ra những kiến nghị, đề xuất tâm huyết nhằm đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW thực sự đi vào đời sống, tạo cú hích mạnh mẽ cho diện mạo ngành công nghiệp văn hóa nước nhà trong giai đoạn tới.
Ở góc độ định vị thương hiệu quốc gia, ông Nguyễn Bảo Trung kiến nghị cơ quan quản lý cần có định hướng rõ ràng trong việc lựa chọn, xây dựng các nội dung văn hóa trọng điểm để nhân rộng và xuất khẩu. Việt Nam cần những sản phẩm mũi nhọn mang tính biểu tượng, để khi nhắc đến, bạn bè quốc tế có thể nhận diện ngay lập tức.
Dưới góc nhìn lữ hành, bà Đoàn Thị Thanh Trà bày tỏ mong muốn có một chiến lược đầu tư bài bản cho việc số hóa các dữ liệu văn hóa. Bà Trà nhấn mạnh, ngành Du lịch đang chuyển dịch mạnh mẽ từ tham quan điểm đến thuần túy sang trải nghiệm chiều sâu, do đó một hệ thống dữ liệu văn hóa chính thống, được chắt lọc kỹ lưỡng sẽ là “nguyên liệu” vô giá giúp các doanh nghiệp lữ hành xây dựng sản phẩm chất lượng và mở rộng các mô hình du lịch liên kết.
TS. Chu Tiến Đạt khẳng định, lấy văn hóa làm năng lực cạnh tranh là con đường cốt lõi mà doanh nghiệp đang theo đuổi. Tuy nhiên, để văn hóa lan tỏa mạnh mẽ và an toàn trên môi trường số, việc chuẩn hóa và bảo chứng dữ liệu là yếu tố sống còn. Ông Đạt ví von, một hệ sinh thái nền tảng dữ liệu sạch, chuẩn chỉnh chính là “gốc cây tốt” điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp công nghệ đóng vai trò “cành nhánh”, lan tỏa hiệu quả các giá trị di sản của dân tộc.
Có thể khẳng định, công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số không còn dừng lại ở lĩnh vực sáng tạo, mà đã và đang khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn, giàu tiềm năng.
Để hiện thực hóa khát vọng bứt phá, bên cạnh sự thông thoáng về mặt thể chế, chính sách, sự chủ động nhập cuộc của cộng đồng doanh nghiệp phối hợp cùng nền tảng công nghệ hiện đại sẽ là những “viên gạch” vững chắc nhất xây dựng nên một nền công nghiệp văn hóa Việt Nam giàu bản sắc và hội nhập thành công.
Theo HỒNG HẠNH; ảnh: LÊ HOÀN (Báo Văn Hóa)
Link nội dung: https://webcongdong.vn/but-pha-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-trong-ky-nguyen-so-a27113.html